Đóng góp ý kiến vào Luật đấu thầu (sửa đổi)
Kính thưa: Đoàn Chủ tịch
Kính thưa: Quốc hội
Trước tiên, tôi cơ bản nhất trí với nội dung của Dự thảo Luật đấu thầu (sửa đổi). Dự thảo Luật đã được Ban soạn thảo chuẩn bị chu đáo, công phu, đã cụ thể hóa nhiều nội dung, hướng tới giải quyết được nhiều bất cập trong hoạt động đấu thầu hiện nay.
Tôi xin góp ý thêm 5 nội dung sau đây:
1. Về phạm vi điều chỉnh:
Dự thảo Luật đã bao quát và phản ánh được đầy đủ nội dung liên quan đến hoạt động đấu thầu sử dụng nguồn vốn nhà nước.
Tôi đồng ý là cần thiết phải có quy định ngoại lệ áp dụng đối với những dự án mặc dù không đáp ứng tiêu chí 30% vốn Nhà nước nhưng phần vốn của Nhà nước trong tổng mức đầu tư của dự án lớn. Tuy nhiên, phần vốn của Nhà nước trong tổng mức đầu tư của dự án lớn là 500 tỷ đồng hay là bao nhiêu thì nên cân nhắc cho phù hợp. Đồng thời, để đảm bảo được tính ổn định lâu dài của Luật, theo tôi không nên tuyệt đối hóa giá trị trong Luật mà Luật chỉ nên quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, còn giao cho Chính phủ quy định về mức giá trị này theo từng thời kỳ cho phù hợp.
2. Thống nhất các quy định về đấu thầu trong một luật chung:
Dự thảo Luật được sửa đổi theo hướng đưa các nội dung về đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng quy định tại Luật Xây dựng vào Luật Đấu thầu (sửa đổi). Quy định này là hợp lý, bởi 3 lý do:
Thứ nhất: Loại bỏ được tình trạng trùng lặp, mâu thuẫn trong quá trình thực hiện pháp luật về đấu thầu.
Thứ hai: Đảm bảo được tính thống nhất, minh bạch trong lựa chọn nhà thầu. Việc lựa chọn nhà thầu cho bất kỳ gói thầu nào thuộc bất kỳ lĩnh vực gì đều phải được thống nhất thực hiện theo quy định và quy trình chung.
Thứ ba: Phù hợp với thông lệ quốc tế, vì nhiều nước trên thế giới hiện nay như: Pháp, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều ban hành Luật Đấu thầu (hay Luật Mua sắm công) nhằm thống nhất điều chỉnh các hoạt động mua sắm, sử dụng vốn Nhà nước.
3. Về chỉ định thầu:
Dự thảo Luật đã đưa hình thức Mua sắm trực tiếp thành một trong các trường hợp chỉ định thầu, tuy nhiên có quy định phạm vi, điều kiện áp dụng với thời hạn từ khi ký hợp đồng gốc đến ngày phê duyệt kết quả chỉ định thầu không quá 6 tháng. Với khoảng thời gian này thì chưa đủ để chứng minh hàng hóa hay công trình mà nhà thầu đã thực hiện đảm bảo chất lượng, hiệu quả.
Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1195/QĐ-TTg, trong đó có quy định về cơ chế nhân đôi trong lựa chọn nhà thầu để đầu tư xây dựng các dự án điện cấp bách. Cơ chế này được áp dụng đã thể hiện rõ tính hợp lý và hiệu quả trong quá trình triển khai thực hiện, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả chủ đầu tư và nhà thầu.
4. Về Ưu tiên nhà thầu, hàng hóa trong nước:
Điều 12 và Điều 14 của Dự thảo Luật bổ sung một số quy định về ưu đãi nhà thầu và hàng hóa trong nước. Quy định này là cần thiết, vì:
- Tạo cơ hội cho nhà thầu nội trúng thầu;
- Tạo việc làm cho lao động Việt Nam;
- Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa trong nước. Tăng cường tính cạnh tranh cho nhà thầu và hàng hóa trong nước khi tham gia đấu thầu quốc tế.
5. Về giải quyết kiến nghị trong đấu thầu:
Theo tôi, Điều 106 chỉ cần quy định “Việc giải quyết kiến nghị trong đấu thầu tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật”. Còn áp dụng quy định của luật nào thì nên để văn bản hướng dẫn luật quy định chi tiết.
Để việc giải quyết kiến nghị đạt hiệu quả, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác đấu thầu, nên giao cho một cơ quan hành chính độc lập tham gia giải quyết kiến nghị. Vì quy định như vậy sẽ mang tính răn đe các chủ đầu tư không được cố ý làm sai, ràng buộc được trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu. Điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.
Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Quốc hội.
ĐBQH.Phan Văn Quý







