Tạp chí Văn học và tuổi trẻ: Không sống bằng vinh quang quá khứ
Trân trọng mời quý độc giả đọc bài văn nghị luận xã hội của em Lê Minh Tùng, học sinh lớp 11A trường THPT Vũng Tàu, phường Tam Thắng, Tp. Hồ Chí Minh về AHLLVTND Phan Văn Quý, đăng trên tạp chí Văn học và tuổi trẻ, số tháng 10 năm 2026.
Vinh quang có thể là đích đến, nhưng cũng có thể chỉ là một dấu mốc trên hành trình của mỗi người. Đọc câu chuyện về Anh hùng Phan Văn Quý trong cuốn sách Dấu chân Bộ đội Cụ Hồ, em ấn tượng không chỉ bởi những chiến công của ông mà còn bởi cách ông sống sau chiến tranh. Từ người lính Trường Sơn đến doanh nhân và người hết lòng vì cộng đồng, ông vẫn không ngừng bước tiếp. Đúng như nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận xét: “Phan Văn Quý không dựa vào dĩ vãng, không sống bằng vinh quang quá khứ".
Nếu muốn “sống bằng vinh quang quá khứ". Phan Văn Quý có lẽ có đủ lí do để làm như vậy. Cuối năm 1971, khi cuộc chiến tranh đang ở giai đoạn ác liệt, ông xung phong nhập ngũ và trở thành lính lái xe của Tiểu đoàn ô tô 52, Trung đoàn 11, Sư đoàn 571. Gần bốn năm trên tuyến lửa Trường Sơn, ông lái xe hơn 65.000 km an toàn, tiết kiệm gần 7.000 lít xăng, có nhiều sáng kiến bảo vệ phương tiện và hàng hoá. Tháng 6/1976, khi mới 23 tuổi, Phan Văn Quý được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hai mươi ba tuổi, cái tuổi mà nhiều người còn đang bắt đầu tìm con đường cho mình, Phan Văn Quý đã có một quá khứ đủ để gọi là phi thường. Nhưng điều khiến em chú ý không phải là ông đã trở thành anh hùng trẻ đến mức nào, mà là sau khi trở thành anh hùng, ông đã sống ra sao?
Rời quân đội khi tuổi đời còn trẻ với quân hàm trung tá, Phan Văn Quý bắt đầu làm kinh tế từ một xuất phát điểm gần như bằng không. Từ một người lính, ông bước sang một thế giới hoàn toàn khác: Thương trường. Ở đó không còn những con đường Trường Sơn đầy bom đạn, nhưng vẫn có những “đèo dốc” riêng mà một con người phải tự vượt qua.
Theo em, đây chính là ý nghĩa đầu tiên trong nhận xét "không dựa vào đi vãng”. Không dựa vào quá khứ không có nghĩa là quên quá khứ. Ở Phan Văn Quý, dường như những phẩm chất của người lính lái xe năm nào vẫn đi theo ông trên những con đường mới.
Khi còn ở Trường Sơn, ông không chỉ biết lái xe. Ông học sửa xe, tìm cách gia cố xe, thu gom và phân loại những phụ tùng có thể sử dụng được để để phòng sự cố. Trước mỗi chuyến vận chuyển, ông kiểm tra kĩ tình trạng phương tiện và chuẩn bị vật tư dự phòng. Nhiều năm sau, khi làm kinh tế và từ thiện, ông vẫn giữ một cách nghĩ tương tự: "Làm gì cũng cần phải bài bản: từ lái xe, kinh doanh hay làm từ thiện, gốc có vững cây mới bền”. Phan Văn Quý không sống bằng chiến công, nhưng ông mang những phẩm chất đã tạo nên chiến công ấy vào cuộc sống hoà bình: sự cẩn trọng, ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học và thói quen làm việc đến nơi đến chốn.
Khi muốn góp phần thay đổi quê nhà Yên Thành ông không chỉ trao tiền cho những gia đình khó khăn. Ông tham gia tài trợ việc lập quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, mời chuyên gia nghiên cứu đất và nước để xác định cây trồng, vật nuôi phù hợp; hỗ trợ đào tạo nghề, xây dựng cơ sở y tế, nhà máy nước sạch và nhiều công trình khác. Em đặc biệt ấn tượng với quan niệm cho người khác một “cần câu", không chỉ cho một "xâu cá". Bởi giúp một người vượt qua khó khăn trước mắt đã đáng quý, nhưng tìm cách để họ có thể tự thay đổi cuộc sống của mình còn khó hơn. Lòng tốt khi ấy không chỉ cần một trái tim biết thương người mà còn cần hiểu biết, trách nhiệm và sự kiên trì.
Tuy nhiên, có lẽ phần cảm động nhất trong con người Phan Văn Quý lại nằm ở mối quan hệ của ông với những đồng đội không trở về.
Phan Văn Quý trở về từ chiến trường với thương tật loại A, bậc 4/4, nhưng ông vẫn cho rằng mình “rất may mắn”, bởi rất nhiều đồng đội đã vĩnh viễn nằm xuống. Người khác có thể nhìn vào ông và thấy một anh hùng. Còn ông nhìn lại chiến trường và thấy những người đã không có cơ hội trở về.
Có lẽ vì thế, ông từng quay lại chiến trường cũ để tìm người bạn học là liệt sĩ Ngô Xuân Thanh. Cuộc tìm kiếm kéo dài tới bảy năm, cho đến khi ông gặp được người từng trực tiếp chôn cất bạn mình. Sau hành trình ấy, ông nhận ra rằng việc tìm hài cốt liệt sĩ không thể chỉ dựa vào những thông tin giản lược trên giấy báo tử. Những lần gặp các Mẹ Việt Nam anh hùng, nghe mong muốn được tìm thấy hài cốt con trước khi qua đời, tiếp tục thôi thúc ông tham gia những hoạt động nhằm "trả lại tên" cho đồng đội.
Và em hiểu vì sao một người có nhiều thành tích như Phan Văn Quý lại chỉ nói về mình “như một hạt cát thôi”. “Hạt cát” rất nhỏ. Nhưng nhiều hạt cát làm nên một con đường. Một con người cũng vậy. Có lẽ Phan Văn Quý không xem những việc minh làm là điều gì quá lớn lao bởi ông đặt mình giữa đồng đội, quê hương và cộng đồng. Khi nhìn mình từ điểm nhìn ấy, thành tích cá nhân tự nhiên trở nên nhỏ hơn trách nhiệm.
Vì vậy, nếu phải trả lời câu hỏi: điều gì đáng quý hơn ở Phan Văn Quý, những thành tích ông đạt được hay cách ông lựa chọn sống sau những thành tích ấy, em nghiêng về điều thứ hai. Danh hiệu Anh hùng ở tuổi 23 rất đáng kính trọng. Nhưng danh hiệu chỉ ghi nhận một chặng đường. Còn cách sống là lựa chọn được thực hiện từng ngày, có khi kéo dài suốt cả cuộc đời. Chiến công cho chúng ta biết Phan Văn Quý đã từng là người như thế nào trong hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh; những việc ông làm sau chiến tranh cho thấy khi trở về đời sống bình thường, những phẩm chất ấy vẫn còn nguyên giá trị.
Tuy nhiên, cũng không nên tách hai điều này khỏi nhau. Nếu chỉ nhìn chiến công mà bỏ qua cuộc đời sau đó, chúng ta mới thấy một phần Phan Văn Quý. Nếu chỉ nhìn những hoạt động thiện nguyện mà quên những năm tháng Trường Sơn, chúng ta cũng khó hiểu vì sao ông luôn đau đáu với đồng đội và coi việc mình sống sót trở về là một sự may mắn. Quá khứ và hiện tại nối với nhau, nhưng quá khứ ấy không phải là điểm dừng của ông.
Từ Phan Văn Quý, em hiểu câu "không sống bằng vinh quang quá khứ" theo một nghĩa rất giản dị: điều mình đã làm được hôm qua không thể thay cho câu trả lời về việc mình sẽ sống thế nào hôm nay. Một người từng đứng trên đỉnh cao vẫn có thể chọn bước tiếp. Một người đã được gọi là anh hùng vẫn có thể tự nhận mình chỉ là "một hạt cát". Có lẽ chính ở điểm tưởng như mâu thuẫn ấy, em nhìn thấy phần đáng quý nhất của Phan Văn Quý: ông không cổ sống mãi trong câu chuyện về những điều mình đã làm, mà tiếp tục tạo ra những điều đáng để người khác kể về mình.







