Nhà thơ Trần Đăng Khoa: Chuyện đời thường - Một thoáng Phan Văn Quý
17/05/2019
Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Mọi người biết đến ông không chỉ là một nhà thơ, nhà văn, một người lính... mà còn là một nhà báo, nhà quản lý tài ba của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Từ nhỏ, ông đã được nhiều người đánh giá cao về chất thơ, chất văn trong ông và được coi là "Thần đồng thơ văn". Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Khi mới 10 tuổi, ông đã cho ra đời tập thơ đầu tiên với tựa đề "Từ góc sân nhà em", do Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Rồi sau đó, ông xuất bản 10 tập thơ, 4 tập văn xuôi bao gồm nhiều thể loại khác nhau.
Đã hơn nửa cuộc đời, với hàng trăm tác phẩm văn học, báo chí, hàng ngàn bài thơ... nhưng điều khiến Trần Đăng Khoa “vượt hơn” so với các cây bút cùng trang lứa, đó là thơ, văn ông không chỉ hay ở tài quan sát, ở óc tưởng tượng, mà hay ở khả năng cảm nhận về "bề sâu, bề xa" của đời sống, ở sự "biết nghĩ" trước những vấn đề lớn gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói "Giời đã mượn cái miệng trẻ con của Khoa để làm thơ cho người lớn đọc".
Nhận định về hồn thơ và chất văn trong con người ông, đã có nhiều, rất nhiều người đánh giá gói trọn trong 4 chữ "Thần đồng văn chương".
Nhà thơ - Nhà văn - Nhà báo Trần Đăng Khoa sẽ cùng với độc giả trải nghiệm về cuộc đời của các nhân vật, về những câu chuyện mà giờ đây ông mới kể, Radio Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này:
Từ nhỏ, ông đã được nhiều người đánh giá cao về chất thơ, chất văn trong ông và được coi là "Thần đồng thơ văn". Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Khi mới 10 tuổi, ông đã cho ra đời tập thơ đầu tiên với tựa đề "Từ góc sân nhà em", do Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Rồi sau đó, ông xuất bản 10 tập thơ, 4 tập văn xuôi bao gồm nhiều thể loại khác nhau.
Đã hơn nửa cuộc đời, với hàng trăm tác phẩm văn học, báo chí, hàng ngàn bài thơ... nhưng điều khiến Trần Đăng Khoa “vượt hơn” so với các cây bút cùng trang lứa, đó là thơ, văn ông không chỉ hay ở tài quan sát, ở óc tưởng tượng, mà hay ở khả năng cảm nhận về "bề sâu, bề xa" của đời sống, ở sự "biết nghĩ" trước những vấn đề lớn gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng. Nhà thơ Tố Hữu đã từng nói "Giời đã mượn cái miệng trẻ con của Khoa để làm thơ cho người lớn đọc".
Nhận định về hồn thơ và chất văn trong con người ông, đã có nhiều, rất nhiều người đánh giá gói trọn trong 4 chữ "Thần đồng văn chương".
Nhà thơ - Nhà văn - Nhà báo Trần Đăng Khoa sẽ cùng với độc giả trải nghiệm về cuộc đời của các nhân vật, về những câu chuyện mà giờ đây ông mới kể, Radio Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết này:
MỘT THOÁNG PHAN VĂN QUÝ
Vâng đúng thế. Đây chỉ là một lát cắt, hay nói đúng hơn: Một thoáng Phan Văn Quý. Để nói đầy đủ về anh, có lẽ phải viết mấy cuốn sách dày... Ở bài viết nhỏ này, tôi không nói lại những gì mọi người đã biết, đã nói, mà chỉ thử cắt nghĩa, lý giải những “bí kíp” nào đã đưa anh đến thành công.
Vâng đúng thế. Đây chỉ là một lát cắt, hay nói đúng hơn: Một thoáng Phan Văn Quý. Để nói đầy đủ về anh, có lẽ phải viết mấy cuốn sách dày. Mà người ta cũng đã viết rồi đấy. Cuốn mới nhất là tập ký, phóng sự “Vẫn là người lính” dày khoảng 300 trang. Ở cuốn sách này, anh hùng Phan Văn Quý được chiếu rọi qua nhiều góc độ khác nhau, từ những góc nhìn của các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chính phủ, là các Ủy viên Bộ Chính trị, cho đến các nhà văn, nhà báo, rồi những đối tác và cả những người cán bộ nhân viên giản dị, bình thường. Ở bài viết nhỏ này, tôi không nói lại những gì mọi người đã biết, đã nói, mà chỉ thử cắt nghĩa, lý giải những “bí kíp” nào đã đưa anh đến thành công.
Tôi vẫn còn nhớ cái khoảnh khắc lần đầu gặp Phan Văn Quý. Cũng lâu rồi. Dễ có đến hơn chục năm. Khi đó tôi đang làm Giám đốc Kênh truyền hình VOV. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày ra đời con đường Trường Sơn, Kênh truyền hình VOV có làm một bộ phim tài liệu dài ba tập về cung đường huyền thoại này. Anh hùng lái xe Phan Văn Quý là một trong những nhân vật quan trọng của bộ phim. Nhưng Phan Văn Quý rất khiêm nhường. Anh không muốn mọi người nói nhiều về mình. Anh chỉ muốn nhường thời lượng của phim cho đồng đội anh, đặc biệt là những cán bộ cựu trào, những người lính đầu tiên đã khai mở con đường huyền thoại. Vì thế, trong phim, anh chỉ xuất hiện trong đám đông, mà cũng chỉ loáng thoáng không đầy một phút.
Khi ấy, trên các kênh truyền thông của ta lại đang cồn lên chuyện các cô gái khu vực đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng nước ngoài. Nhiều gã Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc đâu phải các ông chủ hay những người giàu có gì, có lão già khọm, có kẻ mâng mâng, cả những người khuyết tật, những gã bợm trợn, chỉ có một chút tiền là đã có thể nghênh ngang sang Việt Nam chọn vợ. Họ chọn vợ như chọn mua mớ rau. Nhiều cô gái con nhà lành, không có việc làm, bố mẹ lại nghèo, đã phải đem thân đến chốn chợ người, lột quần áo cho người ta xem cơ thể, da thịt, rồi tiếp theo là nhằng nhịt những gì giống như sự ngã giá. Thực chất, họ có khác gì cô Kiều, tự bán mình cứu cha mẹ. Mà có nhiều nhặn gì đâu. Chỉ 10 triệu, 15 triệu. Nhiều nhất cũng chỉ đến 30 triệu đồng, giúp bố mẹ trả một phần công nợ. Rồi ném thân vào cõi mịt mù mà không thể lường hết những hiểm hoạ gì đang chờ họ ở phía trước. Có người bị ngược đãi, bị hành hạ, đánh đập. Có người thành nô lệ tình dục cho cả mấy bố con trong nhà. Có người ức quá, nhục quá, phải nhảy lầu, chọn cái chết làm chốn thoát thân. Bao nhiêu thân gái là bấy nhiêu số phận. Phan Văn Quý đau đớn lắm. Anh uất ức khi trả lời phỏng vấn của hai phóng viên nữ kênh truyền hình VOV ở chương trình Thời sự. Gặp tôi, anh hỏi ngay:
- Có cách nào cứu được họ không hả đồng hương?
Phan Văn Quý hay gọi tôi là “đồng hương”. Mặc dù, tôi ở Hải Dương, còn anh ở Yên Thành, Nghệ An. Đấy là hai vùng quê rất xa nhau và hoàn toàn khác biệt. Nhưng với anh, hình như cứ ai từng là lính thì đều là “đồng hương” cả. Còn đối với cánh lái xe Trường Sơn, nói như Phạm Tiến Duật, thi sĩ của Trường Sơn thì chỉ cần ăn chung với nhau một bữa cơm là đã thành ruột thịt rồi: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời - Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.
- Có cách nào cứu được họ không?
Phan Văn Quý lại hỏi. Tôi chưa biết xoay sở ra sao trước câu hỏi của anh thì anh đã phác ra ngay một kế hoạch. Anh sẽ thành lập một công ty may mặc, hay một nghề nào đó phù hợp với phụ nữ, để thu nhận các cô gái có hoàn cảnh khó khăn. Khi có công ăn việc làm, có đồng tiền thu nhập ổn định, họ sẽ chủ động và tự tin quyết định số phận của mình, không phải kiếm sống hay tìm hạnh phúc nơi quê người đất khách. Các cụ bảo rồi. Xảy nhà ra thất nghiệp. Khi đã xảy nhà rồi thì có được đồng tiền cũng đâu đã chắc chắn. Bởi đó dù tiền của mình cũng đâu đã phải của mình. Ngay cả tấm thân mình cũng chẳng được là của mình, khi mình lâm vào hoàn cảnh tha hương.
Phan Văn Quý là thế. Anh rất thông minh và nhanh nhạy. Một người đàn ông cứng rắn, dũng cảm, nhưng lại rất tinh tế và đa cảm. Cùng một vụ việc, ngay lập tức, anh có thể đưa ra rất nhiều phương án, rồi chọn phương án nào tốt nhất, khả thi nhất để thực hiện. Tuy nhiên, không phải việc nào anh cũng có thể làm được, nhất là khi người quyết định cuối cùng của công việc lại không phải là anh. Bởi nhiều người không muốn gò mình vào những việc cụ thể. Họ lại mong đổi đời bằng những cuộc viễn du. Họ muốn lên Thiên đường. Một Thiên đường không phải do mình tạo dựng xây đắp mà có sẵn ở một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó. Cuộc sống bề bộn, ngổn ngang vẫn luôn tồn tại những quy luật nằm ngoài mọi quy luật. Và rồi nó cũng lại nằm ngoài mọi sự tính toán. Cho dù đó là sự tính toán rất thông minh, tỉnh táo của một người anh hùng.
Và sự thật đúng như thế. Sau khi tìm hiểu, khảo sát thực tiễn, Phan Văn Quý biết ý tưởng của mình rất khó thực thi. Anh cùng với một số bậc lão thành và doanh nhân khác thành lập Quỹ Hỗ trợ phòng tránh thiên tai miền Trung, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam và Quỹ Tâm Tài Nghệ An. Chỉ trong thời gian ngắn, Quỹ đã có hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ người nghèo. Rồi anh làm công tác từ thiện. Tôi nhiều lần chứng kiến việc anh làm từ thiện. Mà làm lặng lẽ, âm thầm, như bản tính khiêm nhường, giản dị của anh. Và điều đó, thì không phải ai cũng biết.
Tôi vẫn còn nhớ cái khoảnh khắc lần đầu gặp Phan Văn Quý. Cũng lâu rồi. Dễ có đến hơn chục năm. Khi đó tôi đang làm Giám đốc Kênh truyền hình VOV. Nhân kỷ niệm 50 năm ngày ra đời con đường Trường Sơn, Kênh truyền hình VOV có làm một bộ phim tài liệu dài ba tập về cung đường huyền thoại này. Anh hùng lái xe Phan Văn Quý là một trong những nhân vật quan trọng của bộ phim. Nhưng Phan Văn Quý rất khiêm nhường. Anh không muốn mọi người nói nhiều về mình. Anh chỉ muốn nhường thời lượng của phim cho đồng đội anh, đặc biệt là những cán bộ cựu trào, những người lính đầu tiên đã khai mở con đường huyền thoại. Vì thế, trong phim, anh chỉ xuất hiện trong đám đông, mà cũng chỉ loáng thoáng không đầy một phút.
Khi ấy, trên các kênh truyền thông của ta lại đang cồn lên chuyện các cô gái khu vực đồng bằng sông Cửu Long lấy chồng nước ngoài. Nhiều gã Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc đâu phải các ông chủ hay những người giàu có gì, có lão già khọm, có kẻ mâng mâng, cả những người khuyết tật, những gã bợm trợn, chỉ có một chút tiền là đã có thể nghênh ngang sang Việt Nam chọn vợ. Họ chọn vợ như chọn mua mớ rau. Nhiều cô gái con nhà lành, không có việc làm, bố mẹ lại nghèo, đã phải đem thân đến chốn chợ người, lột quần áo cho người ta xem cơ thể, da thịt, rồi tiếp theo là nhằng nhịt những gì giống như sự ngã giá. Thực chất, họ có khác gì cô Kiều, tự bán mình cứu cha mẹ. Mà có nhiều nhặn gì đâu. Chỉ 10 triệu, 15 triệu. Nhiều nhất cũng chỉ đến 30 triệu đồng, giúp bố mẹ trả một phần công nợ. Rồi ném thân vào cõi mịt mù mà không thể lường hết những hiểm hoạ gì đang chờ họ ở phía trước. Có người bị ngược đãi, bị hành hạ, đánh đập. Có người thành nô lệ tình dục cho cả mấy bố con trong nhà. Có người ức quá, nhục quá, phải nhảy lầu, chọn cái chết làm chốn thoát thân. Bao nhiêu thân gái là bấy nhiêu số phận. Phan Văn Quý đau đớn lắm. Anh uất ức khi trả lời phỏng vấn của hai phóng viên nữ kênh truyền hình VOV ở chương trình Thời sự. Gặp tôi, anh hỏi ngay:
- Có cách nào cứu được họ không hả đồng hương?
Phan Văn Quý hay gọi tôi là “đồng hương”. Mặc dù, tôi ở Hải Dương, còn anh ở Yên Thành, Nghệ An. Đấy là hai vùng quê rất xa nhau và hoàn toàn khác biệt. Nhưng với anh, hình như cứ ai từng là lính thì đều là “đồng hương” cả. Còn đối với cánh lái xe Trường Sơn, nói như Phạm Tiến Duật, thi sĩ của Trường Sơn thì chỉ cần ăn chung với nhau một bữa cơm là đã thành ruột thịt rồi: “Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời - Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”.
- Có cách nào cứu được họ không?
Phan Văn Quý lại hỏi. Tôi chưa biết xoay sở ra sao trước câu hỏi của anh thì anh đã phác ra ngay một kế hoạch. Anh sẽ thành lập một công ty may mặc, hay một nghề nào đó phù hợp với phụ nữ, để thu nhận các cô gái có hoàn cảnh khó khăn. Khi có công ăn việc làm, có đồng tiền thu nhập ổn định, họ sẽ chủ động và tự tin quyết định số phận của mình, không phải kiếm sống hay tìm hạnh phúc nơi quê người đất khách. Các cụ bảo rồi. Xảy nhà ra thất nghiệp. Khi đã xảy nhà rồi thì có được đồng tiền cũng đâu đã chắc chắn. Bởi đó dù tiền của mình cũng đâu đã phải của mình. Ngay cả tấm thân mình cũng chẳng được là của mình, khi mình lâm vào hoàn cảnh tha hương.
Phan Văn Quý là thế. Anh rất thông minh và nhanh nhạy. Một người đàn ông cứng rắn, dũng cảm, nhưng lại rất tinh tế và đa cảm. Cùng một vụ việc, ngay lập tức, anh có thể đưa ra rất nhiều phương án, rồi chọn phương án nào tốt nhất, khả thi nhất để thực hiện. Tuy nhiên, không phải việc nào anh cũng có thể làm được, nhất là khi người quyết định cuối cùng của công việc lại không phải là anh. Bởi nhiều người không muốn gò mình vào những việc cụ thể. Họ lại mong đổi đời bằng những cuộc viễn du. Họ muốn lên Thiên đường. Một Thiên đường không phải do mình tạo dựng xây đắp mà có sẵn ở một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó. Cuộc sống bề bộn, ngổn ngang vẫn luôn tồn tại những quy luật nằm ngoài mọi quy luật. Và rồi nó cũng lại nằm ngoài mọi sự tính toán. Cho dù đó là sự tính toán rất thông minh, tỉnh táo của một người anh hùng.
Và sự thật đúng như thế. Sau khi tìm hiểu, khảo sát thực tiễn, Phan Văn Quý biết ý tưởng của mình rất khó thực thi. Anh cùng với một số bậc lão thành và doanh nhân khác thành lập Quỹ Hỗ trợ phòng tránh thiên tai miền Trung, Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam và Quỹ Tâm Tài Nghệ An. Chỉ trong thời gian ngắn, Quỹ đã có hàng trăm tỷ đồng hỗ trợ người nghèo. Rồi anh làm công tác từ thiện. Tôi nhiều lần chứng kiến việc anh làm từ thiện. Mà làm lặng lẽ, âm thầm, như bản tính khiêm nhường, giản dị của anh. Và điều đó, thì không phải ai cũng biết.

Nhiều lúc, tôi cứ nghĩ, không biết bí kíp nào đã làm lên Phan Văn Quý? Có lẽ là chất lính chăng? Người lính, đúng như Bác Hồ nói: “Thắng không kiêu. Bại không nản”. Phan Văn Quý đã từng thất bại. Ấy là khi anh vừa rời quân đội ra làm kinh tế tư nhân: Kinh doanh xăng dầu. Xăng dầu đối với anh đâu có lạ. Anh là lính lái xe Trường Sơn. Yêu xe như con. Quý xăng như máu. Câu khẩu hiệu mang tính chỉ đạo chiến lược này, hầu như người lính nào cũng biết, kể cả những người lính không làm nhiệm vụ lái xe. Nhưng khẩu hiệu vẫn chỉ là khẩu hiệu. Chỉ có Phan Văn Quý mới biến nó thành hiện thực trọn vẹn. Anh yêu xe, có nhiều sáng kiến bảo vệ xe. Đặc biệt là việc sáng chế ra chiếc áo giáp bảo vệ xe. Áo giáp là những thân gỗ rừng áp hai bên thành xe, che trên mái xe, vừa làm nguỵ trang, vừa chắn những mảnh bom, mảnh đạn cho cả người và xe. Rồi kinh nghiệm tiết kiệm xăng. Tiết kiệm hàng ngàn lít. Đúng là yêu xe như con, quý xăng như máu. Chính những kỳ tích này cùng hàng ngàn hàng vạn km ngang dọc Trường Sơn dưới mua bom bão đạn, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho thương binh, cùng hàng hoá vận chuyển đã đào luyện anh thành anh hùng Trường Sơn. Khi rời khỏi quân đội, ra làm kinh tế, anh chỉ còn có hai bàn tay trắng. Trong bài thơ LÍNH THỜI BÌNH, tôi cũng đã có lần bàn:
Trước giặc là lính cựu
Sau trâu là tân binh
Cái nghèo và cái dốt
Bày trận giữa thời bình
Và rồi người lính quả cảm đã từng vượt qua bao nhiêu cửa tử bom đạn nổi tiếng nhất của tuyến đường Trường Sơn, vượt không phải một lần mà hàng trăm lần: Ngầm Tà Lê, Cua chữ A, Đèo Phu La Nhích rồi Ngã ba Lùm Bùm. Vậy mà anh đã thất bại ngay khi mới vào trận Kinh doanh xăng dầu. Quý xăng như máu. Tiết kiệm xăng thì đã đành rồi. Nhưng kinh doanh xăng lại là việc khác. Thế là anh đã bị phá sản. Nhưng Bại không nản. Đó là bản lĩnh người lính. Chính bản lĩnh ấy đã vực anh đứng dậy. Lấy thất bại làm kinh nghiệm mới để phòng tránh. Và anh đã vượt lên. Vượt từng bước vững chắc để rồi lại tiếp tục làm nên những kỳ tích mới.
Bây giờ, Phan Văn Quý đã trở thành người lính mặc thường phục. Mặc thường phục, nhưng Phan Văn Quý vẫn là một người lính. Một người lính theo đúng nghĩa. Chính chất lính đã làm lên anh trong giai đoạn mới này.
Làm kinh tế đâu có dễ. Không phải ngẫu nhiên, người ta gọi “Thương trường là chiến trường”. Vì thế, rất dữ dội và khốc liệt. Nhưng với Phan Văn Quý thì khác. Thương trường là chiến trường. Nhưng đó là một chiến trường đặc biệt. Nếu chỉ là chiến trường thông thường, thì chiến trường ấy chỉ có sống và chết. Bởi ở đó có TA, có ĐỊCH. Phải tìm mọi cách tiêu diệt ĐỊCH để giành lấy sự sống. Đó là sự đối kháng quyết liệt với kẻ thù không đội trời chung. Nhưng với Phan Văn Quý, Thương trường là Chiến trường không có kẻ thù. Nếu có cái gọi là kẻ thù, thì chỉ là kẻ thù ảo. Đó là cái đói, cái nghèo, hay sự dốt nát, lạc hậu, trì trệ, đi ngược lại tiến trình văn minh của cả loài người. Còn lại đều là đồng đội. Đối tác là đồng đội. Đối với người lính, đồng đội thiêng liêng lắm. Nói như nhà thơ Chính Hữu:
Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm, pháo dội
Ta mới hiểu thế nào là đồng đội
Đồng đội ta
Là hớp nước uống chung
Miếng cơm xẻ nửa
Là chia nhau một sớm nắng, một chiều mưa
Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia nhau nụ cười
Chia nhau cái chết…
Vậy đó. Với đồng đội, thì đến cả cái chết cũng chung nhau. Và như thế, dù ở địa danh nào, ở thời điểm nào, dù người lính hi sinh ở Điện Biên năm 1954, ở cửa ngõ Sài Gòn năm 1975, hay ở Lạng Sơn năm 1979, ở Biển Đông, Trường Sa năm 1988 thì họ cũng vẫn chung nhau một ngày giỗ. Đó là ngày 27 tháng 7.
Nhưng với Phan Văn Quý, ở chiến trường đặc biệt này, không có cái chết mà chỉ có sự sống. Đồng đội ôm lấy nhau mà sống. Không phải tôi ăn cơm. Anh ăn cháo. Mà tất cả đều ăn cơm. Rồi tiến tới những bữa “Đại tiệc”. Làm sao để tất cả đều thành công. Không phải tôi thành công thì anh cứ phải thất bại. Nếu người khác phải thất bại thì thành công của mình đâu có trọn vẹn. Không có hạnh phúc nào đáng gọi là hạnh phúc khi nó lại được xây đắp trên nỗi đau khổ của kẻ khác.
Chính quan niệm rất mới này đã giúp Phan Văn Quý có được những bước đi vững chắc để đến được thành công. Cũng chính vì quan niệm rất nhân văn này, cộng với sự mẫn cảm đặc biệt của người lính đã giúp anh né được những trận bão khốc liệt mà không làm đau khổ cho ai. Chính đồng đội đã dìu anh lên. Rồi anh cũng lại dìu đồng đội. Rồi cùng đồng đội dìu tiếp bao nhiêu kiếp người bất hạnh, giúp họ có niềm tin để đứng vững trên đôi chân của mình. Ta hiểu vì sao, một đồng chí lãnh đạo rất có uy tín đã phải khẳng định: “Phan Văn Quý thật đáng quý!”.
Được dân mến, dân tin đâu có dễ dàng. Nhất là trong giới thương trường. Phan Văn Quý quả thật rất đáng quý!
Trước giặc là lính cựu
Sau trâu là tân binh
Cái nghèo và cái dốt
Bày trận giữa thời bình
Và rồi người lính quả cảm đã từng vượt qua bao nhiêu cửa tử bom đạn nổi tiếng nhất của tuyến đường Trường Sơn, vượt không phải một lần mà hàng trăm lần: Ngầm Tà Lê, Cua chữ A, Đèo Phu La Nhích rồi Ngã ba Lùm Bùm. Vậy mà anh đã thất bại ngay khi mới vào trận Kinh doanh xăng dầu. Quý xăng như máu. Tiết kiệm xăng thì đã đành rồi. Nhưng kinh doanh xăng lại là việc khác. Thế là anh đã bị phá sản. Nhưng Bại không nản. Đó là bản lĩnh người lính. Chính bản lĩnh ấy đã vực anh đứng dậy. Lấy thất bại làm kinh nghiệm mới để phòng tránh. Và anh đã vượt lên. Vượt từng bước vững chắc để rồi lại tiếp tục làm nên những kỳ tích mới.
Bây giờ, Phan Văn Quý đã trở thành người lính mặc thường phục. Mặc thường phục, nhưng Phan Văn Quý vẫn là một người lính. Một người lính theo đúng nghĩa. Chính chất lính đã làm lên anh trong giai đoạn mới này.
Làm kinh tế đâu có dễ. Không phải ngẫu nhiên, người ta gọi “Thương trường là chiến trường”. Vì thế, rất dữ dội và khốc liệt. Nhưng với Phan Văn Quý thì khác. Thương trường là chiến trường. Nhưng đó là một chiến trường đặc biệt. Nếu chỉ là chiến trường thông thường, thì chiến trường ấy chỉ có sống và chết. Bởi ở đó có TA, có ĐỊCH. Phải tìm mọi cách tiêu diệt ĐỊCH để giành lấy sự sống. Đó là sự đối kháng quyết liệt với kẻ thù không đội trời chung. Nhưng với Phan Văn Quý, Thương trường là Chiến trường không có kẻ thù. Nếu có cái gọi là kẻ thù, thì chỉ là kẻ thù ảo. Đó là cái đói, cái nghèo, hay sự dốt nát, lạc hậu, trì trệ, đi ngược lại tiến trình văn minh của cả loài người. Còn lại đều là đồng đội. Đối tác là đồng đội. Đối với người lính, đồng đội thiêng liêng lắm. Nói như nhà thơ Chính Hữu:
Năm mươi sáu ngày đêm bom gầm, pháo dội
Ta mới hiểu thế nào là đồng đội
Đồng đội ta
Là hớp nước uống chung
Miếng cơm xẻ nửa
Là chia nhau một sớm nắng, một chiều mưa
Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia nhau nụ cười
Chia nhau cái chết…
Vậy đó. Với đồng đội, thì đến cả cái chết cũng chung nhau. Và như thế, dù ở địa danh nào, ở thời điểm nào, dù người lính hi sinh ở Điện Biên năm 1954, ở cửa ngõ Sài Gòn năm 1975, hay ở Lạng Sơn năm 1979, ở Biển Đông, Trường Sa năm 1988 thì họ cũng vẫn chung nhau một ngày giỗ. Đó là ngày 27 tháng 7.
Nhưng với Phan Văn Quý, ở chiến trường đặc biệt này, không có cái chết mà chỉ có sự sống. Đồng đội ôm lấy nhau mà sống. Không phải tôi ăn cơm. Anh ăn cháo. Mà tất cả đều ăn cơm. Rồi tiến tới những bữa “Đại tiệc”. Làm sao để tất cả đều thành công. Không phải tôi thành công thì anh cứ phải thất bại. Nếu người khác phải thất bại thì thành công của mình đâu có trọn vẹn. Không có hạnh phúc nào đáng gọi là hạnh phúc khi nó lại được xây đắp trên nỗi đau khổ của kẻ khác.
Chính quan niệm rất mới này đã giúp Phan Văn Quý có được những bước đi vững chắc để đến được thành công. Cũng chính vì quan niệm rất nhân văn này, cộng với sự mẫn cảm đặc biệt của người lính đã giúp anh né được những trận bão khốc liệt mà không làm đau khổ cho ai. Chính đồng đội đã dìu anh lên. Rồi anh cũng lại dìu đồng đội. Rồi cùng đồng đội dìu tiếp bao nhiêu kiếp người bất hạnh, giúp họ có niềm tin để đứng vững trên đôi chân của mình. Ta hiểu vì sao, một đồng chí lãnh đạo rất có uy tín đã phải khẳng định: “Phan Văn Quý thật đáng quý!”.
Được dân mến, dân tin đâu có dễ dàng. Nhất là trong giới thương trường. Phan Văn Quý quả thật rất đáng quý!
Nhà thơ - Nhà văn - Nhà báo Trần Đăng Khoa
Tin mới nhất
• Báo QĐND: Xây dựng ngành xe máy - vận tải quân sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại (06/04/2026)
• Liên đoàn Lao động Thành phố Hà Nội tổ chức thành công Đại hội Công đoàn lần thứ XVIII (31/12/2025)
• Báo Nhân dân: Hội Hỗ trợ gia đình liệt sĩ Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ IV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 (25/12/2025)
• Báo Đại biểu nhân dân: Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba Vũ Hải Hà chủ trì Hội nghị tổng kết công tác Hội Hữu nghị Việt Nam - Cuba (12/12/2025)
• Báo tin tức: Chiêu đãi kỷ niệm 65 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba (03/12/2025)
Tin cũ hơn







