ĐBQH Phan Văn Quý đóng góp ý kiến về tái cơ cấu nền kinh tế
.jpg)
Kính thưa: Đoàn Chủ tịch,
Kính thưa: Quốc hội,
So với các kỳ họp đầu khóa, tình hình kinh tế xã hội của nước ta hiện nay có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, an sinh xã hội được đảm bảo, quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đã đạt nhiều kết quả ấn tượng, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, những năm gần đây, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, kinh tế - xã hội trong nước có nhiều thuận lợi, thách thức đan xen. Vì vậy, tôi cơ bản nhất trí với Báo cáo của Chính phủ về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. Đồng thời, tôi xin đề cập thêm hai vấn đề sau đây:
Một là: Phát triển kinh tế biển, cần tăng thêm nguồn lực cho các doanh nghiệp đóng tàu quân đội.
Kính thưa Quốc hội,
Nhiều chuyên gia cho rằng kinh tế biển là lĩnh vực kinh tế đặc thù nên việc tổ chức thực hiện cũng phải có cơ chế đặc thù.
Tại kỳ họp thứ 3, khi góp ý về Luật Biển, tôi đã đề nghị: “Cần san bớt nhiệm vụ phát triển kinh tế biển cho một số doanh nghiệp cùng ngành của Bộ Quốc phòng”. Đồng thời, tại buổi chất vấn tại hội trường 13/6/2012, tôi đã gửi tới Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, câu hỏi: “Theo Bộ trưởng, có cần san bớt nhiệm vụ phát triển kinh tế biển cho một số doanh nghiệp cùng ngành của Bộ Quốc phòng không?”. Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã đồng tình, và ủng hộ sẽ đưa nội dung này vào chương trình tái cơ cấu nền kinh tế. Tiếp đó, tại kỳ họp thứ 5, tôi tiếp tục đề nghị: “Cần san sẻ nhiệm vụ kinh tế biển của các đơn vị yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ cho các doanh nghiệp quốc phòng có năng lực”.
Kính thưa Quốc hội,
Chúng tôi kiên trì, nhiều lần đưa ra đề xuất trên, vì 3 lý do sau đây:
1-Trước hết, về an ninh biển đảo: Phát triển kinh tế biển đi đôi với công tác bảo vệ, giữ vững an ninh biển đảo là một quy trình hợp lý, mà doanh nghiệp quân đội đóng vai trò quan trọng là cần thiết. Có chuyên gia đã khẳng định: “Mọi lời tuyên bố về chủ quyền, chỉ mang lại lợi ích cho quốc gia, khi nó gắn liền với thực lực và thông qua sự hiện diện quốc gia tại vùng biển có chủ quyền”.
2-Về kinh nghiệm quốc tế: Nhìn ra khu vực, chúng ta có thể lấy Công ty ST Engineering thuộc Tập đoàn Temasek của Singapore là một ví dụ. Đây là công ty đại chúng, có khoảng 35.000 cổ đông, nhà nước chỉ chiếm khoảng 50%, nhưng trong 5 năm gần đây doanh thu trung bình mỗi năm của đơn vị này khoảng khoảng 5 tỷ USD, xếp số 1 Đông Nam Á về CNQP và kinh tế biển.
3-Về doanh nghiệp quân đội: Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp quân đội của nước ta được tổ chức chặt chẽ, có hệ thống từ cơ quan Bộ đến các đơn vị thành viên. Do vậy, khi xảy ra bất ổn, việc xử lý rất nhanh. Những năm qua, một số doanh nghiệp quân đội đã thành công với nhiều thương hiện nổi bật như: Viettel, Tân Cảng, Ba Son, Sông Thu, Hồng Hà, MB. Trong đó, các nhà máy đóng tàu quân đội đã cho xuất xưởng những chiếc tàu hiện đại, đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật khắt khe của quân sự và xuất khẩu. Ngân hàng TMCP Quân đội, tuy Nhà nước sở hữu vốn gần 40% nhưng với phương thức quản trị điều hành mang “màu sắc áo lính”, MB vẫn phát triển ổn định trong tư thế “vững vàng, tin cậy”.
Như vậy, việc tăng thêm nguồn lực cho doanh nghiệp đóng tàu quân đội để các doanh nghiệp này đổi mới công nghệ, dẫn dắt ngành đóng tàu cả nước, góp phần tăng cường khai thác kinh tế biển và bảo đảm an ninh biển đảo là cần thiết và hợp lý.
Hai là: Phát triển ngành đóng tàu cần đi đôi với phát triển công nghiệp hỗ trợ và chương trình nội địa hóa.
Hiện nay, chúng ta đã có quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đây là chủ trương đúng. Từ Quyết định 1791 của Thủ tướng năm 2012, chương trình nội địa hóa trong ngành năng lượng được đẩy mạnh và bước đầu có hiệu quả. Trong 3 năm qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tập đoàn Dầu khí quốc gia đã có nhiều công trình với tỷ lệ nội địa hóa cao, trong đó có công trình đạt tới từ 35% đến 40%. Tuy nhiên, đến năm 2018-2020, khoảng 90% số dòng thuế sẽ bị xóa, và dự kiến đến năm 2028-2030 trên 80% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam sẽ có thuế suất bằng 0, theo như cam kết tại các hiệp định song phương và đa phương nhà nước ta đã ký. Như vậy, việc sản xuất và chế tạo của nhiều ngành sẽ bị co lại, nhưng dư địa cho ngành đóng tàu sẽ còn rất lớn. Do đó, chúng ta cần có quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng nguồn lực để tạo ra sự phát triển đột phá trong ngành đóng tàu, thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ đáp ứng cho ngành công nghiệp đóng tàu, và sản phẩm nội địa hóa phải được tối đa.
Kính thưa Quốc hội,
Để chương trình phát triển kinh tế biển có hiệu quả, tạo thêm nhiều nguồn lực cho ngành đóng tàu của cả nước, góp phần bảo vệ và giữ vững an ninh biển đảo, tôi đề nghị:
1-Tăng thêm nguồn lực cho các doanh nghiệp đóng tàu quân đội, xây dựng và phát triển các doanh nghiệp này theo mô hình Ngân hàng quân đội, có lộ trình nâng Pháp lệnh công nghiệp quốc phòng thành Luật phát triển công nghiệp quốc phòng.
2-Phát triển ngành đóng tàu cần đi đôi với phát triển công nghiệp hỗ trợ và chương trình nội địa hóa. Cần có chương trình nội địa hóa trong ngành đóng tàu như Quyết định 1791 của Thủ tướng Chính phủ đang thực hiện tại ngành năng lượng và sớm ban hành Luật Nội địa hóa.
Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Quốc hội.
ĐBQH. Phan Văn Quý







